Chọn ngôn ngữ

Tổng hợp

Những khoản chi nào của nhiệm vụ khoa học công nghệ không thực hiện khoán chi?

Trả lời :

Theo quy định tại Nghị quyết số 193/2025/QH15, các khoản chi không thực hiện khoán chi bao gồm:

1. Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, máy móc phục vụ nhiệm vụ KH&CN;

2. Chi thuê dịch vụ thuê ngoài, bao gồm: tư vấn, kiểm định, thử nghiệm, đánh giá độc lập theo hợp đồng, và dịch vụ thuê ngoài khác…

3. Chi công tác nước ngoài của người tham gia thực hiện nhiệm vụ.

4. Chi đầu tư xây dựng, cải tạo, sửa chữa lớn.

5. Các khoản chi khác mà pháp luật yêu cầu quyết toán theo thực chi.

Có phải tất cả các khoản chi của nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đều được khoán chi không?

Trả lời :

Theo Nghị quyết số 193/2025/QH15, việc khoán chi không áp dụng đối với toàn bộ các khoản chi của nhiệm vụ KH&CN. Một số khoản chi do tính chất đầu tư, quản lý ngân sách hoặc yêu cầu quyết toán theo chế độ tài chính hiện hành bắt buộc không thực hiện khoán chi.

Đề nghị hướng dẫn thu tục Chỉ định thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 214/NQ-CP?

Trả lời :

Luật Đấu thầu năm 2023, Nghị quyết số 193/2025/QH15, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc chỉ định thầu thực hiện nhiệm vụ, dự án, hoạt động thuê, mua sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan, đơn vị chỉ định thầu cho các doanh nghiệp đồng hành theo quy định tại Nghị quyết số 214/NQ-CP. Do vậy, đề nghị bộ, ngành, địa phương khẩn trương tổ chức lựa chọn nhà thầu để xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu, đáp ứng tiến độ theo yêu cầu tại Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ và Thông báo kết luận số 52/TB-TGV ngày 06/11/2025 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong mọi trường hợp, việc chỉ định thầu phải đảm bảo chất lượng, hiệu quả, tiến độ, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực; trường hợp áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu khác thì phải bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có năng lực, kinh ngiệm thực hiện gói thầu và không làm được làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng thực hiện gói thầu, dự án, dự toán mua sắm.

Đề nghị hướng dẫn xác định chủ đầu tư đối với gói thầu thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm đề cương chi tiết và dự toán kinh phí theo quy định tại Điểm b, khoản 21, Điều 1, Luật số 90/2025/QH15: “Chủ đầu tư tổ chức lập và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu”. Vậy chủ đầu tư là đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN, hay là Sở KH&CN cấp tỉnh?

Trả lời :

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Đấu thầu, đổi với phần kinh phíkhoán chỉ của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng toàn bộ hoặc một phần ngân sách nhà nước, tổ chức, cá nhân chủ trì được tự quyết định việc lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Đấu thầu, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn, quản lý quá trình thực hiện dự án; đơn vị sử dụng ngân sách; đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng dự toán mua sắm ngoài ngân sách nhà nước; đơn vị mua sắm tập trung.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Thông tư số 09/2024/TTBKHCN, hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn phải được đánh giá thông qua Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh. Hội đồng tư vấn tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và Tổ thẩm định kinh phí giúp việc cho Hội đồng tuyển chọn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc người được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp ủy quyền quyết định thành lập, quy định số lượng thành viên, chức năng, nhiệm vụ.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Sở KH&CN là đơn vị dự toán ngân sách cấp tỉnh, được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN và Sở KH&CN thực hiện việc tuyển chọn tổ chức, cá nhân ký hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo quy định tại Thông tư số 09/2024/TT-BKHCN và các văn bản pháp luật khác có liên quan thì Sở Khoa học và Công nghệ là chủ đầu tư. Sau khi lựa chọn được đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN và đơn vị chủ trì được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn không phải là phần kinh phí khoản chỉ thì đơn vị chủ trì là chủ đầu tư thực hiện mua sắm hàng hóa, dịch vụ để thực hiện nhiệm vụ KH&CN.

Trong quá trình triển khai nhiệm vụ và dự toán chi KH,CN,ĐMST và CĐS trong năm ngân sách, Bộ ngành có cần xin ý kiến của Bộ KH&CN khi thực hiện điều chỉnh dự toán trong phạm vi chi KH,CN,ĐMST và CĐS (không thay đổi lĩnh vực chi) không?

Trả lời :

Khoản 2 Điều 28 Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) 2025 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ KH&CN: “Hướng dẫn, tổng hợp và đề xuất dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương theo quy định của Luật này, Luật Đầu tư công và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực, bảo đảm tổng mức và cơ cấu phù hợp với chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.” (Nội dung về tổng hợp, lập dự toán NSNN đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Luật NSNN 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).

Như vậy, Luật NSNN 2025 chỉ quy định nhiệm vụ của Bộ KH&CN tại khâu “hướng dẫn, tổng hợp và đề xuất dự toán”, không đề cập tới việc phân bổ, điều chỉnh dự toán trong năm.

- Khoản 2 Điều 53 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định về điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách: “Việc điều chỉnh dự toán phải bảo đảm các yêu cầu về phân bổ và giao dự toán quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này. Sau khi thực hiện điều chỉnh dự toán, đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp để kiểm tra, đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để thực hiện.”

- Điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “Việc điều chỉnh dự toán chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước”.

Trên cơ sở các quy định pháp luật nêu trên, Bộ ngành chủ động triển khai và chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề xuất điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước theo thẩm quyền, trong trường hợp cần thiết trình Bộ Tài chính kiểm tra, phối hợp xử lý trên hệ thống Tabmis theo quy định.

Bộ, ngành, địa phương cần căn cứ vào đâu khi xây dựng Kế hoạch ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hằng năm?

Trả lời :

Khi xây dựng Kế hoạch ngành KHCN&ĐMST và chuyển đổi số, Bộ, ngành, địa phương cần căn cứ vào chủ trương, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các quy định pháp luật, hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ; mục tiêu, nhiệm vụ được giao và khả năng cân đối nguồn lực. Kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm, tiến độ thực hiện và dự kiến kinh phí, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả.

Việc xử lý tài sản (máy móc, trang thiết bị) được trang bị từ nguồn ngân sách nhà nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu được quy định như thế nào?

Trả lời :

Nhà nước thực hiện quản lý tài sản theo nguyên tắc bảo đảm hiệu quả và tránh lãng phí:

• Giao quyền quản lý: Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng hoặc quyền sở hữu tài sản cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ ngay khi hình thành tài sản.

• Trách nhiệm của tổ chức chủ trì: Tổ chức phải quản lý tài sản công khai, minh bạch; đối với các tài sản hư hỏng hoặc lạc hậu, tổ chức được quyền thanh lý, tiêu hủy theo quy định pháp luật.

• Sử dụng tiền thu được: Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản (sau khi trừ chi phí liên quan) phải được quản lý và sử dụng theo đúng quy định về tài sản công.

Cơ chế xử lý rủi ro tài chính được áp dụng như thế nào khi nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) sử dụng ngân sách nhà nước không đạt kết quả như dự kiến?

Trả lời :

Pháp luật hiện hành thừa nhận đặc thù rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Việc xử lý không  thu hồi kinh phí được thực hiện dựa trên các nguyên tắc và điều kiện chặt chẽ sau:

• Điều kiện miễn trách nhiệm: Tổ chức chủ trì và cá nhân thực hiện được miễn trách nhiệm dân sự nếu chứng minh đã thực hiện đầy đủ, đúng quy trình quản lý, nội dung nghiên cứu và các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhưng kết quả vẫn không đạt mục tiêu do nguyên nhân khách quan,

• Các trường hợp không thu hồi kinh phí: Bao gồm kết quả không đạt mục tiêu đề ra tại thuyết minh; thiệt hại tài sản do sự cố bất khả kháng; hoặc tổ chức chủ trì bị giải thể/phá sản không còn khả năng thanh toán khi lý do khách quan.

• Phạm vi miễn trừ: Người thực hiện được miễn trách nhiệm hành chính và dân sự; riêng trách nhiệm hình sự chỉ được xem xét loại trừ theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm.

Nguyên tắc lập dự toán NSNN hằng năm cho hoạt động KH, CN & ĐMST là gì để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả?

Trả lời :

vDự toán NSNN hằng năm cho hoạt động KH, CN & ĐMST được lập trên cơ sở kế hoạch KH, CN & ĐMST 05 năm đã được phê duyệt, căn cứ khả năng cân đối NSNN và kết quảsử dụng ngân sách năm trước.

Việc lập dự toán phải đúng nội dung chi, đúng phương pháp; ưu tiên bố trí kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp, nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm; hạn chế dàn trải, trùng lặp; đồng thời gắn trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu với hiệu quả sử dụng và kết quả đầu ra của ngân sách nhà nước.

Lập kế hoạch KH, CN & ĐMST 05 năm cần tuân thủ những yêu cầu cơ bản nào để làm căn cứ bố trí ngân sách nhà nước?

Trả lời :

Kế hoạch KH, CN & ĐMST 05 năm phải được xây dựng trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và chiến lược KH, CN & ĐMST; có đánh giá đầy đủ, khách quan kết quả thực hiện kế hoạch giai đoạn trước; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, lĩnh vực ưu tiên và định hướng phân bổ nguồn lực.

Kế hoạch cần bảo đảm tính đồng bộ với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm, gắn mục tiêu với nhiệm vụ cụ thể và hiệu quả dự kiến, qua đó trở thành căn cứ tin cậy cho việc bố trí NSNN.

Năm 2026, Luật KHCN&ĐMST, Luật NSNN 2025 đã bắt đầu có hiệu lực, như vậy các Thông tư 02/2023/TT-BKHCN, Thông tư 03/2023/TT-BTC, Thông tư liên tịch 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC cũng hết hiệu lực thi hành (do các căn cứhình thành 03 Thông tư hết hiệu lực thi hành). Như vậy các bộ, ngành, địa phương căn cứ vào đâu để xây dựng dự toán cho nhiệm vụ KHCN, ĐMST thời gian tới?

Trả lời :

Kể từ năm 2026, khi Luật KHCN&ĐMST và Luật NSNN có hiệu lực, các thông tư nêu trên chấm dứt hiệu lực thi hành do căn cứ pháp lý đã hết hiệu lực. Trong giai đoạn chuyển tiếp, các bộ, ngành, địa phương xây dựng dự toán kinh phí cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên cơ sở quy định của Luật KHCN&ĐMST, Luật NSNN, các nghị định của Chính phủ (trong đó có Nghị định số 265/2025/NĐ-CP) và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ; đồng thời vận dụng định mức, phương pháp lập dự toán đã được ban hành trước đây cho đến khi có văn bản hướng dẫn mới thay thế, bảo đảm quản lý chặt chẽ, không gián đoạn việc thực hiện nhiệm vụ.

Tại Điểm đ khoản 3 Điều 63 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Luật KHCN &ĐMST) quy định “Kinh phí tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kinh phí hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ triển khai hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giao về các quỹ quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này được cấp bằng lệnh chi tiền vào tài khoản của các quỹ tại Kho bạc Nhà nước”. Đồng thời, quy địnhchi tiết tại tiểu điểm b3 điểm b khoản 3 Điều7NĐ 265/2025/NĐ-CP. Đến 31/12/2025, Bộ ngành chưa thành lập “Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ” thì kinh phí tài trợ, đặt hàng cho nhiệm vụ chuyển tiếp và mở mới năm 2026 thực hiện giao dự toán như thế nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước 2025 (Luật NSNN), Luật KHCN &ĐMST và Nghị định số 265/2025/NĐ-CP, các văn bản này chỉ quy định phương thức cấp kinh phí qua quỹ khi quỹ đã được thành lập, không có quy định cấm giao dự toán trực tiếp trong trường hợp Bộ, ngành chưa thành lập quỹ. Vì vậy, trong giai đoạn chuyển tiếp, kinh phí nhiệm vụ chuyển tiếp và nhiệm vụ mở mới năm 2026 tiếp tục được bố trí trong dự toán chi ngân sách của Bộ, ngành và giao dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, bảo đảm không gián đoạn việc thực hiện nhiệm vụ.

Thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính là gì?

Trả lời :

   + Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định 118/2025/NĐ-CP có giải thích, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh là việc cho phép tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qua hình thức trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa trong phạm vi cấp tỉnh để thuận tiện cho việc thực hiện của tổ chức, cá nhân, không phân biệt cấp chính quyền, địa giới hành chính nơi cư trú, nơi đặt trụ sở hoặc nơi đã cấp các loại giấy tờ cho tổ chức, cá nhân.

   + Nghị định 121/2025/NĐ-CP quy định việc thực hiện nguyên tắc “phi địa giới hành chính” khi thực hiện giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tức là người dân có quyền đến bất cứ UBND cấp xã nào để yêu cầu được giải quyết các thủ tục hành chính mà không phụ thuộc vào nơi cư trú.

Phân quyền, phân cấp trong giải quyết thủ tục hành chính?

Trả lời :

   + Phân quyền trong quản lí hành chính là phân cho một tập thể hay một đơn vị hành chính – lãnh thổ tự quản lí, có tư cách pháp nhân, có những quyền hạn và những nguồn lực nhất định, dưới sự kiểm tra của Nhà nước. Phân quyền được chia thành phân quyền ngang và phân quyền dọc.

   + Phân cấp quản lí là giao bớt một phần quyền quản lí cho cấp dưới, trong hệ thống quản lí chung. Phân cấp quản lý hành chính là việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cấp trên cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện thường xuyên, lâu dài, ổn định trên cơ sở pháp luật.

   + Phân cấp giải quyết thủ tục hành chính là việc cơ quan nhà nước ở cấp trên chuyển giao thẩm quyền, nhiệm vụ giải quyết một số thủ tục cho cấp dưới (chính quyền địa phương, cơ quan cấp thấp hơn) thực hiện, nhằm mục tiêu giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian, tạo thuận lợi, giảm chi phí, chống nhũng nhiễu cho người dân và doanh nghiệp.

Người dân, doanh nghiệp có thể nộp phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính theo các phương thức nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 24 Nghị định 118/2025/NĐ-CP quy định các phương thức như sau:

   + Trực tiếp nộp hoặc chuyển vào tài khoản thụ hưởng của cơ quan có thẩm quyền;

   + Trực tuyến thông qua chức năng thanh toán của Cổng Dịch vụ công quốc gia và các nền tảng thanh toán hợp lệ khác;

   + Các phương thức khác theo quy định của pháp luật.

Người dân, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo hình thức nào?

Trả lời :

Theo Điều 15 Nghị định 118/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua các cách thức theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính:

   + Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa;

   + Thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật;

   + Trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.

 

Phân biệt phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành và Phần mềm Dịch vụ công?

Trả lời :

Phần mềm nghiệp vụ tập trung vào giải quyết quy trình nội bộ, tối ưu hóa các dữ liệu, công việc chuyên môn chuyên biệt của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; trong khi Phần mềm Dịch vụ công (Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính) hướng đến việc cung cấp dịch vụ, tương tác và giải quyết thủ tục cho người dân/doanh nghiệp: Khác nhau ở đối tượng phục vụ (nội bộ / công chúng) và mục tiêu (hiệu quả quản lý, kinh doanh / phục vụ cộng đồng, người dân, doanh nghiệp).

   + Tiêu chí: Phần mềm nghiệp vụ mang tính phục vụ yêu cầu nội bộ, chuyên biệt cho lĩnh vực chuyên ngành, có chức năng, tính năng quản lý dữ liệu theo nhu cầu riêng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; Phần mềm Dịch vụ công mang tính công khai, phục vụ cộng đồng, có tiêu chí quy định tại Thông tư số 02/VBHN-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về chức năng, tính năng kỹ thuật của Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh.

   + Quy trình: Phần mềm nghiệp vụ giải quyết quy trình xử lý dữ liệu chuyên sâu về lĩnh vực chuyên ngành; Phần mềm Dịch vụ công giải quyết theo quy trình hành chính, công khai, minh bạch, tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp theo dõi; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

   + Nhà cung cấp: Cả hai đều có thể do doanh nghiệp tự phát triển hoặc mua từ bên thứ ba, nhưng phần mềm dịch vụ công thường có sự tham gia, định hướng và quản lý chặt chẽ của nhà nước.

Số hóa trong tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính?

Trả lời :

Theo Điều 3, Thông tư số 01/2023/TT-VPCP, số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính là quá trình chuyển đổi thông tin đang được thể hiện trên giấy trong thành phần hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính sang dữ liệu điện tử. 

Các mức độ dịch vụ công trực tuyến?

Trả lời :

 Nghị định 42/2022/NĐ-CP quy định có 02 mức độ dịch vụ công trực tuyến như sau:

   + Dịch vụ công trực tuyến toàn trình: là dịch vụ bảo đảm cung cấp toàn bộ thông tin về thủ tục hành chính, việc thực hiện và giải quyết thủ tục hành chính, việc thực hiện và giải quyết thủ tục hành chính đều được thực hiện trên môi trường mạng. Việc trả kết quả được thực hiện trực tuyến hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công ích.

   + Dịch vụ công trực tuyến một phần: là dịch vụ công trực tuyến không bảo đảm các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị đinh 42/2022/NĐ-CP.

   + Cơ quan nhà nước ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số tối đa trong quá trình cung cấp và xử lý dịch vụ công trực tuyến trên môi trường mạng trừ trường hợp tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ phải hiện diện tại cơ quan nhà nước hoặc cơ quan nhà nước phải đi thẩm tra, xác minh tại hiện trường theo quy định.

Dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước là gì?

Trả lời :

Dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng. 

Dịch vụ hành chính công là gì?

Trả lời :

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 42/2022/NĐ-CP, dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý hoặc dưới hình thức thông báo kết quả thực hiện trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý. Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một hoặc một số thủ tục hành chính để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân.

Các loại hình dịch vụ công phổ biến hiện nay.

Trả lời :

Việt Nam có 3 loại hình dịch vụ công cơ bản: dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp (dịch vụ sự nghiệp công giáo dục đào tạo, dịch vụ sự nghiệp công văn hóa thông tin, dịch vụ sự nghiệp công khoa học công nghệ); dịch vụ công trong lĩnh vực công ích (vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị); và dịch vụ hành chính công. Các loại hình dịch vụ công này đều có tầm quan trọng trong việc đem lại lợi ích chung, bình đẳng trong xã hội.

Phân loại Thủ tục hành chính.

Trả lời :

Đối với mỗi tiêu chí khác nhau, TTHC được phân chia thành các loại khác nhau:

   + Phân chia theo lĩnh vực quản lý của của cơ quan Nhà nước

   + Phân chia theo cơ quan thực hiện

   + Phân chia theo cấp cơ quan thực hiện (ví dụ cấp bộ, cấp địa phương)

   + Phân chia theo Thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, hoặc Thủ tục hành chính nội bộ (Thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan Nhà nước).

Nội dung bắt buộc của Thủ tục hành chính?

Trả lời :

Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 63/2010/NĐ-CP, một TTHC chỉ hoàn thành khi đáp ứng đủ 8 bộ phận tạo thành cơ bản sau.

   + Tên TTHC.

   + Trình tự thực hiện.

   + Cách thực hiện.

   + Thành phần, số lượng hồ sơ.

   + Thời hạn giải quyết.

   + Đối tượng thực hiện TTHC.

   + Cơ quan giải quyết TTHC.

   + Trong một số trường hợp TTHC phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai ban hành, kết quả TTHC, yêu cầu, điều kiện, phí, lệ phí.

Đặc điểm của Thủ tục hành chính?

Trả lời :

Đặc điểm cơ bản của Thủ tục hành chính

   + Được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành chính nhà nước.

   + Có tính mềm dẻo, linh hoạt.

   + Chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới có quyền thực hiện và thực hiện trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

   + Thủ tục hành chính phải được thực hiện đúng pháp luật.


Thủ tục hành chính là gì?

Trả lời :

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP, “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.

Thủ tục hành chính gồm các nội dung chính sau:

   + Các bước tiến hành (của đối tượng thực hiện thủ tục hành chính và cơ quan giải quyết Thủ tục hành chính) trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.

   + Các loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết Thủ tục hành chính.

   + Những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện Thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một Thủ tục hành chính.

 

Quy trình thực hiện số hóa?

Trả lời :

Theo Thông tư số 01/2023/TT-VPCP, quy trình số hóa được thực hiện qua các bước:

   + Sao chụp giấy tờ, chuyển sang bản điện tử.

   + Bóc tách dữ liệu.

   + Cấp mã kết quả số hóa.

   + Lưu kết quả số hóa.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.