Chọn ngôn ngữ

Tiêu chuẩn, Đo lường và Chất lượng

Doanh nghiệp khi đăng ký sử dụng mã số mã vạch có bắt buộc phải nộp hồ sơ trực tiếp hay có thể thực hiện hoàn toàn bằng hình thức trực tuyến?

Trả lời :

Có 3 hình thức nộp hồ sơ bao gồm:

-        Trực tuyến qua Cổng dịch vụ công Quốc gia

-        Trực tiếp tại Bộ phận một cửa Bộ Khoa học và Công nghệ - Số 113, Trần Duy Hưng, Hà Nội

-        Nộp hồ sơ qua bưu chính công ích.

Tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp, có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ phù hợp và thuận tiện.

Sau khi được cấp tiền tố mã doanh nghiệp, tổ chức cá nhân cần làm những gì để sử dụng mã số, mã vạch đó?

Trả lời :

Bước 1: Thực hiện khai báo thông tin sản phẩm

Theo quy định tại thông tư 10/2020/TT-BKHCN, sau khi được cấp tiền tố mã doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khai báo, cập nhật và cung cấp thông tin liên quan về tổ chức, cá nhân sử dụng mã số, mã vạch vào cơ sở dữ liệu do Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (cơ quan chuyên môn về mã số, mã vạch quốc gia) quản lý tại địa chỉ http://vnpc.gs1.gov.vn, bao gồm tối thiểu các nội dung sau:

a) GTIN;

b) Tên sản phẩm, nhãn hiệu;

c) Mô tả sản phẩm;

d) Nhóm sản phẩm (các loại sản phẩm có tính chất giống nhau);

đ) Tên doanh nghiệp;

e) Thị trường mục tiêu;

g) Hình ảnh sản phẩm.

Bước 2: Thực hiện tạo mã vạch, mã QR để in lên bao bì sản phẩm

Sau khi thực hiện khai báo sản phẩm, hệ thống sẽ tự sinh dãy mã sản phẩm (GTIN) gồm 13 chữ số, tổ chức cá nhân có thể sử dụng trực tiếp tính năng tạo mã vạch, mã QR tại địa chỉ http://vnpc.gs1.gov.vn hoặc qua ứng dụng “Verify – Xác thực thông tin sản phẩm”.

Hiện nay trên thị trường có nhiều ứng dụng quét mã sản phẩm, vậy người tiêu dùng, doanh nghiệp có thể sử dụng ứng dụng nào do đơn vị cấp và quản lý mã số, mã vạch tại Việt Nam vận hành?

Trả lời :

Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người tiêu dùng tra cứu, xác thực thông tin sản phẩm chính xác, minh bạch và an toàn, Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia đang vận hành hai ứng dụng chính thống dựa trên cơ sở dữ liệu gốc của GS1 Việt Nam:

1. Scan and Check – Ứng dụng tra cứu thông tin cơ bản của sản phẩm bằng mã số, mã vạch.

2. Verify – Xác thực sản phẩm – Phiên bản nâng cấp toàn diện, giúp doanh nghiệp chủ động quản lý, kê khai và tương tác với người tiêu dùng thông qua các tính năng vượt trội:

•        Tài khoản miễn phí dành cho các doanh nghiệp thành viên

•        Tạo mã vạch 1D (EAN-13) và 2D (QR code) theo chuẩn GS1 quốc tế

•        Theo dõi lượt quét, sản phẩm yêu thích và phản hồi từ người tiêu dùng

•        Báo cáo, thống kê dữ liệu phục vụ hoạt động marketing và quản trị sản phẩm

•        Kê khai và cập nhật thông tin sản phẩm trực tiếp trên ứng dụng.

Tổ chức muốn nộp hồ sơ xin chỉ định thực hiện hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo thì nộp theo quy định tại văn bản nào?Thời gian xử lý là bao lâu?

Trả lời :

- Khi có nhu cầu đăng ký chỉ định thực hiện hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 2 và chuẩn đo lường dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2, tổ chức lập 01 bộ hồ sơ đăng ký chỉ định theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 54/2025/TT-BKHCN ngày 31/12/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ và gửi đến Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thông qua một trong các hình thức sau: Nộp trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; Gửi qua dịch vụ bưu chính; Nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

- Về thời gian xử lý:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu hồ sơ không hợp lệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thông báo bằng văn bản cho tổ chức đăng ký chỉ định về lý do từ chối xử lý hoặc các nội dung cần hoàn thiện.

Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thành lập đoàn đánh giá tại cơ sở; việc đánh giá tại cơ sở thực hiện theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ kết quả đánh giá tại cơ sở, nếu kết quả đánh giá đạt yêu cầu, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia ban hành quyết định chỉ định tổ chức thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm; trường hợp kết quả đánh giá không đạt yêu cầu thì thông báo bằng văn bản cho tổ chức đăng ký chỉ định và các cơ quan, tổ chức liên quan.

Hiện nay có bao nhiêu phương tiện đo nhóm 2? Danh mục phương tiện đo nhóm 2 quy định thế nào?

Trả lời :

Hiện nay Danh mục phương tiện đo nhóm 2 gồm 69 loại phương tiện đo, được quy định tại Thông tư số 03/2024/TT-BKHCN ngày 15/4/2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Hiện nay trên thị trường có nhiều ứng dụng quét mã sản phẩm, vậy người tiêu dùng, doanh nghiệp có thể sử dụng ứng dụng nào do đơn vị cấp và quản lý mã số, mã vạch tại Việt Nam vận hành?

Trả lời :

Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người tiêu dùng tra cứu, xác thực thông tin sản phẩm chính xác, minh bạch và an toàn, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia giao Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia vận hành hai ứng dụng chính thống dựa trên cơ sở dữ liệu gốc của GS1 Việt Nam:

- Scan and Check - Ứng dụng tra cứu thông tin cơ bản của sản phẩm bằng mã số, mã vạch.

- Verify - Xác thực sản phẩm - Phiên bản nâng cấp toàn diện, giúp doanh nghiệp chủ động quản lý, kê khai và tương tác với người tiêu dùng thông qua các tính năng vượt trội.

Doanh nghiệp khi đăng ký sử dụng mã số mã vạch có bắt buộc phải nộp hồ sơ trực tiếp hay có thể thực hiện hoàn toàn bằng hình thức trực tuyến?

Trả lời :

Có 3 hình thức nộp hồ sơ bao gồm:

- Trực tuyến qua Cổng dịch vụ công Quốc gia

- Trực tiếp tại Bộ phận một cửa Bộ Khoa học và Công nghệ - Số 113, Trần Duy Hưng, Hà Nội.

- Nộp hồ sơ qua bưu chính công ích. Tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp, có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ phù hợp và thuận tiện.

Theo quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi, bổ sung, trách nhiệm quản lý chất lượng hàng hóa khi kinh doanh trên các nền tảng số (thương mại điện tử) có những điểm mới nào đáng chú ý?

Trả lời :

:Điều 34b Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã bổ sung quy định cụ thể về việc bảo đảm chất lượng hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử với những trách nhiệm rõ ràng cho cả người bán và chủ quản nền tảng.

- Đối với tổ chức, cá nhân bán hàng trên nền tảng số: Phải cung cấp đầy đủ thông tin về tên hàng hóa, xuất xứ, thông tin nhà sản xuất/nhập khẩu, dấu hợp chuẩn/hợp quy, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo an toàn. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân phải cập nhật thông tin về chất lượng khi có yêu cầu và thiết lập hệ thống tiếp nhận phản ánh, bồi thường nếu sản phẩm không phù hợp.

- Đối với chủ quản nền tảng số (sàn thương mại điện tử):

+ Phải yêu cầu người bán cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng sản phẩm theo quy định.

+ Thiết lập cơ chế kiểm tra, xử lý đối với hàng hóa vi phạm hoặc khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

+ Có trách nhiệm gỡ bỏ hoặc dừng hiển thị các sản phẩm hàng hóa bị cơ quan chức năng xác định là vi phạm quy chuẩn kỹ thuật hoặc có quyết định thu hồi.

+ Phải phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm liên quan đến chất lượng sản phẩm trên nền tảng của mình.

+ Tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

"Hộ chiếu số của sản phẩm" được định nghĩa như thế nào và vai trò của nó trong việc hiện đại hóa quản lý chất lượng là gì?

Trả lời :

Theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hộ chiếu số của sản phẩm là một khái niệm mới, được định nghĩa là tập hợp các thông tin về sản phẩm và chuỗi cung ứng của sản phẩm đó. Các thông tin này được lưu trữ dưới dạng mã vạch hoặc các phương thức phù hợp khác thông qua cơ sở dữ liệu (như đường dẫn) để các thiết bị phù hợp có thể đọc hoặc kết nối được.

Vai trò của hộ chiếu số trong việc hiện đại hóa quản lý chất lượng bao gồm:

- Minh bạch hóa thông tin: Hộ chiếu số của sản phẩm là công cụ để ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử nhằm đảm bảo tính minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.

- Nghĩa vụ của các bên: Tổ chức, cá nhân sản xuất và nhập khẩu có trách nhiệm thể hiện thông tin về hộ chiếu số trên sản phẩm hoặc bao bì để phục vụ việc kiểm tra, giám sát chất lượng khi lưu thông trên thị trường.

- Hỗ trợ kiểm tra, hậu kiểm: Cơ quan quản lý và người tiêu dùng có thể thông qua hộ chiếu số để tra cứu, đối chiếu thông tin đầy đủ về đặc tính chất lượng, nguồn gốc xuất xứ và kết quả đánh giá sự phù hợp của sản phẩm.

Doanh nghiệp được quyền gia hạn hiệu lực của quyết định phê duyệt mẫu mấy lần?

Trả lời :

Căn cứ khoản 1 Điều 15 Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2, việc gia hạn hiệu lực quyết định phê duyệt mẫu chỉ được thực hiện một (01) lần đối với mỗi quyết định phê duyệt mẫu.

Theo đó, sau khi quyết định phê duyệt mẫu hết thời hạn hiệu lực và đã được gia hạn đủ một (01) lần theo quy định, doanh nghiệp không tiếp tục được gia hạn lần thứ hai. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu tiếp tục sản xuất, nhập khẩu hoặc đưa phương tiện đo vào sử dụng, phải thực hiện thủ tục phê duyệt mẫu mới theo quy định của pháp luật về đo lường.

Phương tiện đo đã được nhập khẩu và kiểm định theo đúng quyết định phê duyệt mẫu; khi quyết định phê duyệt mẫu hết hiệu lực, tổ chức kiểm định có được tiếp tục kiểm định phương tiện đo này không?

Trả lời :

Căn cứ pháp luật về đo lường hiện hành, phê duyệt mẫu phương tiện đo là yêu cầu áp dụng trước khi phương tiện đo được sản xuất, nhập khẩu hoặc đưa vào sử dụng lần đầu, nhằm xác nhận sự phù hợp của mẫu với yêu cầu kỹ thuật đo lường. Trong khi đó, kiểm định phương tiện đo là hoạt động quản lý được thực hiện trong quá trình sử dụng, bao gồm kiểm định định kỳ hoặc kiểm định sau sửa chữa, nhằm bảo đảm phương tiện đo tiếp tục đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đo lường theo quy định. Pháp luật về đo lường không quy định việc kiểm định phải phụ thuộc vào thời hạn hiệu lực của quyết định phê duyệt mẫu.

Do đó, tổ chức kiểm định được tiếp tục thực hiện kiểm định đối với các phương tiện đo đã được nhập khẩu hợp pháp và đưa vào sử dụng theo đúng quyết định phê duyệt mẫu, kể cả trong trường hợp quyết định phê duyệt mẫu đã hết hiệu lực.

Khi các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, hai thủ tục hành chính liên quan đến Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG) (gồm: Thủ tục xét tặng GTCLQG ở cấp trung ương và Thủ tục đăng ký tham dự sơ tuyển, xét tặng GTCLQG ở cấp địa phương) có còn được xác định là thủ tục hành chính hay không?

Trả lời :

Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG) là hoạt động tôn vinh, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa và hoàn thiện mô hình quản trị. Việc đăng ký tham dự GTCLQG mang tính tự nguyện, không phải nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức, doanh nghiệp.

Theo định hướng cải cách thủ tục hành chính, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 27/2019/TT-BKHCN quy định chi tiết thi hành một số điều Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 và Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về Giải thưởng chất lượng quốc gia không quy định các nội dung về thủ tục hành chính đối với GTCLQG. Đồng thời, tại Chương V của Nghị định quy định chi tiết và biện pháp tổ chức thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa trình Chính phủ, các quy định về GTCLQG được thiết kế theo hướng linh hoạt, thông thoáng, tập trung vào điều kiện, hồ sơ và quy trình tổ chức xét tặng.

Các nội dung về GTCLQG theo quy định mới không đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành một thủ tục hành chính, như không quy định thời hạn giải quyết, cách thức thực hiện theo mô hình giải quyết thủ tục hành chính. Vì vậy, hai nội dung nêu trên không còn được xác định là thủ tục hành chính theo quy định pháp luật mới.

Sau khi Nghị định và Thông tư về GTCLQG chính thức được ban hành, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia sẽ đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ có thẩm quyền bãi bỏ các thủ tục hành chính liên quan đến Giải thưởng chất lượng quốc gia, bảo đảm phù hợp với bản chất tự nguyện của hoạt động tôn vinh và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

So với quy định trước đây, các văn bản quy phạm pháp luật về Giải thưởng Chất lượng Quốc gia sửa đổi, bổ sung những nội dung nào đáng chú ý?

Trả lời :

Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng thông thoáng, hiệu quả, đồng thời tôn vinh kịp thời các tổ chức, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế Nghị định số 132/2008/NĐ-CP, Nghị định số 74/2018/NĐ-CP và Thông tư số 27/2019/TT-BKHCN đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng liên quan đến Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG), tập trung vào các nhóm chính sách sau:

- Phân cấp, ủy quyền rõ ràng hơn: Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, quyết định danh sách tổ chức, doanh nghiệp được tặng GTCLQG, qua đó rút ngắn quy trình và nâng cao tính chủ động trong tổ chức xét tặng Giải.

- Lấy sản phẩm, hàng hóa làm trọng tâm đánh giá: Nhấn mạnh việc đánh giá chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, doanh nghiệp tham dự, tạo thuận lợi cho việc xây dựng Báo cáo tự đánh giá, thu thập minh chứng, đồng thời phục vụ công tác quảng bá; vẫn bảo đảm xem xét đồng bộ hệ thống quản trị nhằm đánh giá tính bền vững của doanh nghiệp.

- Nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của chuyên gia và nhóm chuyên gia đánh giá; quy định rõ quy trình đánh giá sản phẩm, hàng hóa tham dự GTCLQG.

- Đơn giản hóa thủ tục hành chính: Rút gọn thành phần hồ sơ; bỏ Hội đồng sơ tuyển ở bộ, ngành và địa phương, bảo đảm quy trình xét tặng gọn nhẹ, thông suốt và hiệu quả.

- Quy định linh hoạt hơn về điều kiện tham dự: Chuyển từ yêu cầu “không vi phạm” sang “chấp hành” pháp luật, nhằm bảo đảm tính khách quan, tránh bỏ sót các tổ chức, doanh nghiệp tiêu biểu, thực sự xứng đáng được tôn vinh.

- Mở rộng quyền lợi của tổ chức, doanh nghiệp đạt Giải: Tăng cường giá trị và ý nghĩa của GTCLQG, tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia và duy trì cải tiến chất lượng.

- Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí và chấm điểm: Quy định chi tiết tiêu chí, thang điểm và nguyên tắc chấm điểm, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch trong đánh giá cả sản phẩm, hàng hóa và hệ thống quản lý của tổ chức, doanh nghiệp.

- Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan: Quy định cụ thể về thành phần, nhiệm vụ, yêu cầu của Hội đồng quốc gia, chuyên gia và nhóm chuyên gia đánh giá; chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thường trực GTCLQG và các cơ quan được giao nhiệm vụ triển khai Giải tại bộ, ngành, địa phương, hội, hiệp hội; trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa được trao GTCLQG.

Theo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), trách nhiệm và vai trò của các chủ thể trong việc tổ chức triển khai hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được quy định như thế nào?

Trả lời :

Câu 14: Theo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), trách nhiệm và vai trò của các chủ thể trong việc tổ chức triển khai hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được quy định như thế nào?

Trả lời :

Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trách nhiệm tổ chức triển khai hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được xác định rõ theo từng nhóm chủ thể, cụ thể như sau:

1. Chính phủ

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật; (Điểm a, Khoản 2, Điều 7a).

2. Bộ Khoa học và Công nghệ:

- Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan tiêu chuẩn quốc gia, đại diện quốc gia tham gia đàm phán và thực thi các cam kết về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia; (Điểm b, Khoản 2, Điều 7a);

- Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quy định cụ thể hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật cho các đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh; (Điểm c, Khoản 2, Điều 7a);

- Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định hồ sơ dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và công bố tiêu chuẩn quốc gia. (Khoản 2, Điều 11);

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Khoa học và Công nghệ; (Điểm a, Khoản 1, Điều 27)

- Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối điều phối, có trách nhiệm xác định cơ quan chủ trì xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính liên ngành cho từng đối tượng quản lý; (Điểm b, Khoản 1, Điều 27);

- Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xuất bản và phát hành tiêu chuẩn quốc gia trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày tiêu chuẩn quốc gia được công bố; (Điểm a, Khoản 2, Điều 21);

- Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định phương thức chứng nhận hợp quy; (Khoản 5, Điều 47).

- Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức công nhận (Khoản 3, Điều 54).

- Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau. (Khoản 1, Điều 57).

3. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố

- Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công. (Điểm c, Khoản 2 Điều 7a)

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức xây dựng hồ sơ dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và đề nghị thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia. (Khoản 1, Điều 11).

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Khoa học và Công nghệ; (Điểm a, Khoản 1, Điều 27);

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành quy chuẩn kỹ thuật bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (Khoản 3, Điều 32);

- Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27 của Luật này chỉ định tổ chức được quyền chứng nhận sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật do mình ban hành trên cơ sở xem xét, lựa chọn tổ chức chứng nhận sự phù hợp quy định tại Điều 50 của Luật này. (Khoản 3, Điều 47);

- Bộ, cơ quan ngang Bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định việc thừa nhận đơn phương kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức đánh giá sự phù hợp quốc tế, tổ chức đánh giá sự phù hợp nước ngoài để phục vụ hoạt động quản lý nhà nước; (Điểm a, Khoản 2, Điều 57);

4. Đối với doanh nghiệp và hiệp hội

- Tham gia góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật.

- Giữ vai trò trung tâm trong áp dụng và xây dựng tiêu chuẩn, tích cực tham gia góp ý khi được tham vấn.

- Hợp tác với cơ quan nhà nước trong xây dựng chiến lược, chương trình về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

- Đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp hệ thống quản lý chất lượng, phòng thử nghiệm và công cụ đánh giá sự phù hợp.

- Cung cấp thông tin cần thiết cho hội viên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Đề xuất xây dựng tiêu chuẩn mới, tham gia ban kỹ thuật tiêu chuẩn hóa.

- Phổ biến, tập huấn, lan tỏa văn hóa tiêu chuẩn trong doanh nghiệp, bảo đảm chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

5. Đối với tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc gia

- Đề xuất, góp ý kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn quốc gia.

- Chủ trì hoặc tham gia biên soạn dự thảo tiêu chuẩn quốc gia để đề nghị thẩm định, công bố.

- Góp ý đối với dự thảo tiêu chuẩn quốc gia.

- Được xem xét tôn vinh, khen thưởng khi có thành tích xuất sắc trong xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế.

- Chịu trách nhiệm về thông tin, dữ liệu và cơ sở khoa học trong quá trình xây dựng, góp ý tiêu chuẩn.

6. Đối với tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng quy chuẩn kỹ thuật

- Đề xuất, góp ý kế hoạch xây dựng quy chuẩn kỹ thuật.

- Biên soạn hoặc tham gia biên soạn dự thảo quy chuẩn kỹ thuật theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền ban hành.

- Góp ý đối với dự thảo quy chuẩn kỹ thuật.

- Chịu trách nhiệm về tính chính xác, khoa học của thông tin, dữ liệu trong quá trình xây dựng, góp ý quy chuẩn kỹ thuật.

Trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2025 bổ sung những quy định gì mới nhằm thúc đẩy sự tham gia của hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vào hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật?

Trả lời :

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2025 đã mở rộng và hoàn thiện khung chính sách quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật theo hướng Nhà nước định hướng, thị trường là chủ đạo, doanh nghiệp là trung tâm, xã hội tham gia tích cực.

Theo đó, Luật quy định và khuyến khích:

- Sự tham gia rộng rãi của hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài vào hoạt động xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; mở rộng quyền xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn của doanh nghiệp, hiệp hội.

- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu, đầu tư, phát triển hạ tầng chất lượng, tổ chức đánh giá sự phù hợp và đào tạo nguồn nhân lực.

- Bổ sung cơ chế tham vấn bắt buộc trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm mọi đối tượng chịu tác động đều được lấy ý kiến trước khi công bố tiêu chuẩn hoặc ban hành quy chuẩn kỹ thuật.

- Thiết lập cơ chế ghi nhận, tôn vinh và ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân có đóng góp trong nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, gắn với các chính sách, giải thưởng về khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật có liên quan.

Các chính sách nêu trên tạo điều kiện để doanh nghiệp và xã hội tham gia chủ động, thực chất vào hoạt động tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, góp phần phát triển dữ liệu quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2025, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng có phải là cơ sở dữ liệu chuyên ngành mở, dùng chung cho tất cả các lĩnh vực không? Dữ liệu có được cập nhật thường xuyên và được phân loại theo cấp xây dựng hoặc theo giai đoạn của quy trình không?

Trả lời :

: Nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2025 đã bổ sung quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng như một nền tảng số chuyên ngành mở, dùng chung cho tất cả các lĩnh vực, phục vụ quản lý nhà nước và hỗ trợ tổ chức, cá nhân.

Cơ sở dữ liệu này được xây dựng, quản lý và vận hành theo nguyên tắc đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, có kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và nền tảng số của Bộ, ngành, địa phương; được cập nhật thường xuyên, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, và được tổ chức, phân loại theo cấp xây dựng hoặc theo giai đoạn của quy trình. Việc vận hành cơ sở dữ liệu tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, an ninh mạng và các quy định pháp luật có liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng đẩy mạnh hậu kiểm, giảm tiền kiểm, cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. 

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.