Trả lời :
Ngày 12/12/2025, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2711/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045.
I. Về quan điểm
1. Phát triển đội ngũ trí thức là
nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của Đảng, Nhà nước, của người đứng đầu và của
chính đội ngũ trí thức; là đầu tư chiến lược, cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn,
gắn với các chiến lược phát triển quốc gia. Tạo nguồn trí thức chủ yếu thông
qua nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục khai phóng, gắn đào tạo với
nghiên cứu và thực tiễn, đồng thời chú trọng bồi dưỡng thế hệ trí thức trẻ, trí
thức nữ, trí thức là người dân tộc thiểu số và trí thức công tác ở vùng khó
khăn.
2. Phát triển đội ngũ trí thức gắn
với xây dựng môi trường học thuật và lao động sáng tạo cởi mở, theo thông lệ quốc
tế; bảo đảm điều kiện nghiên cứu làm việc và đãi ngộ xứng đáng; tôn trọng tự do
học thuật đi đôi với đề cao đạo đức nghề nghiệp. Trọng dụng trí thức trên cơ sở
kết quả đầu ra và đóng góp thực chất cho phát triển quốc gia, ngành, địa phương
và lĩnh vực.
3. Phát triển đội ngũ trí thức phải
bảo đảm hài hòa giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý, tập trung vào các
lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số then chốt, gắn
với các ưu tiên, mục tiêu phát triển quốc gia. Kết hợp chặt chẽ giữa phát huy
trí thức trình độ cao trong nước (gồm trí thức trong khối nhà nước và ngoài nhà
nước) với thu hút, gắn kết trí thức Việt Nam ở nước ngoài; chủ động tham gia mạng
lưới trí thức quốc tế để tiếp thu tinh hoa khoa học - công nghệ đồng thời lan tỏa
giá trị và đóng góp trí tuệ Việt Nam ra thế giới.
II. Về mục
tiêu
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển đội ngũ trí thức Việt
Nam có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, đóng vai trò là động lực chính để phát
triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, dẫn dắt chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo,
hội nhập quốc tế, là động lực then chốt, để Việt Nam đạt mục tiêu trở thành nước
đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030;
nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời góp phần giải quyết các
thách thức toàn cầu và khu vực.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Mục tiêu đến năm 2030:
Phát triển đội ngũ trí thức cả về số
lượng và chất lượng, chú trọng đội ngũ trí thức có trình độ cao trong các lĩnh
vực then chốt, trọng yếu, bảo đảm cân đối giữa các ngành, lĩnh vực, quan tâm tới
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đồng thời gắn kết chặt chẽ với việc
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm 2021 - 2030 và các chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực
và địa phương.
Về chỉ tiêu phát triển đội ngũ trí
thức:
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo toàn thời gian đạt 12 người/1 vạn dân,
trở thành lực lượng sản xuất đặc biệt quan trọng.
- Tỷ lệ người học các ngành khoa học
cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó có ít nhất 6.000 nghiên
cứu sinh, 20.000 người học các chương trình tài năng.
- Tăng tỷ lệ lực lượng lao động trí
thức trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược lên 25%.
- Bảo đảm tối thiểu 40% phụ nữ và
người thuộc các nhóm thiểu số tham gia trong các vị trí làm việc, nghiên cứu,
giảng dạy, lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Thu hút 1.000
lượt trí thức Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu trên các lĩnh vực tham gia trao đổi
học giả, hợp tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ trong nước thông
qua các hình thức làm việc linh hoạt. Xây dựng các mạng lưới kết nối chuyên
gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài chuyên sâu theo lĩnh vực trọng tâm.
- Ít nhất 50% trí thức dưới 45 tuổi
trong khu vực công được đào tạo và bồi dưỡng theo các chương trình nâng cao
trình độ chuyên môn, quản lý, lãnh đạo.
b) Mục tiêu đến năm 2045:
Đội ngũ trí thức Việt Nam phát triển
lớn mạnh, có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, thuộc nhóm hàng đầu khu vực và tiệm
cận trình độ các nước phát triển; giữ vai trò dẫn dắt chuyển đổi số, đổi mới
sáng tạo và hội nhập quốc tế, là động lực then chốt để Việt Nam trở thành nước
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời đóng góp vào tiến bộ và văn
minh nhân loại. Hình thành được hệ sinh thái trí thức quốc gia kết nối chặt chẽ
giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, giữa cộng đồng trí thức trong
và ngoài nước.
Chiến
lược gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp và giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, cơ
quan, địa phương xây dựng kế hoạch triển khai Chiến lược nhằm đạt mục đề ra.
Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.