Chọn ngôn ngữ

Đổi mới sáng tạo

Các điều kiện cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ?

Trả lời :

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Luật số 93/2025/QH15 “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, đổi mới công nghệ, có năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ và mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường.”. Các điều kiện cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệc được quy định cụ thể tại Điều 49 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo như sau:

Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ khi đáp ứng đầy đủ điều kiện chung và điều kiện riêng theo quy mô doanh nghiệp. Quy mô doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1. Điều kiện chung:

a) Được thành lập và đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

b) Tạo ra sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ một trong các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp, bao gồm:

Sáng chế; giải pháp hữu ích; kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được bảo hộ tại Việt Nam;

Chương trình máy tính đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả;

Giống vật nuôi mới; giống cây trồng mới; giống thủy sản mới; giống cây lâm nghiệp mới; tiến bộ kỹ thuật đã được bảo hộ hoặc công nhận;

Kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được nghiệm thu hoặc xác nhận, công nhận theo quy định pháp luật;

Công nghệ nhận chuyển giao theo hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được đăng ký theo quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ.

2. Điều kiện đối với doanh nghiệp lớn:

a) Phải có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 03 năm tài chính liền kề hoặc từ 200 tỷ đồng Việt Nam /năm trở lên trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ;

b) Có bộ phận nghiên cứu và phát triển với tối thiểu 10 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có ít nhất 05 nhân lực là người Việt Nam;

c) Sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tối thiểu 30% tổng doanh thu hoặc đạt từ 90 tỷ đồng Việt Nam/năm trở lên trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ;

d) Sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mang lại một trong các hiệu quả:

Được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài;

Được tạo ra từ công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao theo quy định pháp luật;

Đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế về chất lượng hoặc môi trường.

3. Điều kiện đối với doanh nghiệp vừa:

a) Phải có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ;

b) Có bộ phận nghiên cứu phát triển với tối thiểu 05 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có nhân lực là người Việt Nam;

c) Sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tối thiểu 20% tổng doanh thu trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ.

4. Điều kiện đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ:

a) Phải có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ;

b) Có tối thiểu 02 nhân lực hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có nhân lực là người Việt Nam, hoặc thuê từ 02 chuyên gia trở lên từ cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ;

c) Có ít nhất 01 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được thương mại hóa.

Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã nộp đề xuất về Sở Khoa học và Công nghệ trước ngày 1/10/2025 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có hiệu lực thì quy trình quản lý nhiệm vụ được thực hiện như thế nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 73 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15) về quy định chuyển tiếp: “Đối với đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến ngày 01 tháng 10 năm 2025 chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ thì trình tự, thủ tục xác định, tuyển chọn, giao trực tiếp, phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13”. Do đó, đối với các nhiệm vụ đã hoàn thành việc tiếp nhận các Phiếu đề xuất, đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các tổ chức, cá nhân nộp cho Sở Khoa học và Công nghệ trước ngày 01/10/2025 thì trình tự, thủ tục xác định, tuyển chọn, giao trực tiếp, phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13.

Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh cần những điều kiện gì để được công nhận?

Trả lời :

Theo quy định tại Khoản 17 Điều 3 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15) “Trung tâm đổi mới sáng tạo là tổ chức thực hiện, hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, được công nhận theo tiêu chí năng lực và kết quả hoạt động.” và quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật số 93/2025/QH15 “Trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia được xác định dựa trên tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực, năng lực thực hiện, mục tiêu, kết quả hoạt động.”. Các tiêu chí để công nhận được quy định cụ thể tại Điều 29 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo (Nghị định số 268/2025/NĐ-CP) và việc công nhận Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh được thực hiện theo quy định tại Điều 43 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP.

Tôi được biết, hiện nay, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao được phân cấp xuống UBND cấp tỉnh. Công ty tôi có nhiều chi nhánh ở nhiều tỉnh khác nhau. Vậy để nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao thì nộp tại tỉnh, thành nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Nghị định số 133/2025/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2025 việc thủ tục cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao sẽ do UBND cấp tỉnh thực hiện. Việc nộp hồ sơ tại UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của Công ty đề nghị được cấp giấy chứng nhận. 

Tôi là cá nhân muốn đăng ký cấp giấy chứng nhận hoạt động ứng dụng công nghệ cao. Tôi được biết, các giấy tờ cá nhân như CCCD, CMND, hộ chiếu đều được số hóa trên cổng VneID hoặc các cổng thông tin trực tuyến khác. Vậy khi nộp hồ sơ thì có cần phải bản photo công chứng không?

Trả lời :

Hiện nay, Đảng và Chính phủ đang nỗ lực cắt giảm, đơn giản hóa TTHC để phục vụ người dân, doanh nghiệp, tránh phiền hà và lãng phí nguồn lực của nhà nước. Đối với cá nhân đã có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 thì không cần phải nộp bản photo, công chứng. 

Hoạt động thống kê chuyển giao công nghệ được thực hiện theo những quy định pháp luật nào và cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện?

Trả lời :

Hoạt động thống kê chuyển giao công nghệ là việc thu thập, tổng hợp, phân tích, kết nối và chia sẻ thông tin về chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước và xây dựng, hoàn thiện chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hoạt động này được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (Luật số 07/2017/QH14) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2025 (Luật số 115/2025/QH15), đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật về thống kê.

Theo các quy định nêu trên:

(1) Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì tổ chức thống kê chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ trên phạm vi cả nước; xây dựng hệ thống chỉ tiêu và tổ chức thu thập, kết nối, chia sẻ dữ liệu thống kê theo quy định;

(2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện thống kê chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ trên địa bàn quản lý;

(3) Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ có trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của cơ quan thực hiện thống kê;

(4) Nhà nước khuyến khích việc cung cấp thông tin thông qua Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Trung tâm đổi mới sáng tạo chủ yếu thực hiện các hoạt động gì?

Trả lời :

Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025, trung tâm đổi mới sáng tạo thực hiện một số hoạt động chính sau:

1) Khảo sát, thu thập và phân tích nhu cầu ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và phát triển sản phẩm mới của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân;

2) Tư vấn, đề xuất các giải pháp đổi mới sáng tạo phù hợp với từng đối tượng, bao gồm: Công nghệ, mô hình tổ chức - sản xuất - kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ và phương thức huy động nguồn lực;

3) Tổ chức các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ, kết nối chuyên gia, tổ chức khoa học và công nghệ, viện, trường, doanh nghiệp và các bên liên quan trong và ngoài nước phục vụ đổi mới sáng tạo;

4) Triển khai các hoạt động hỗ trợ ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và chuyển đổi số;

5) Phát triển và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, bao gồm: Trình diễn công nghệ, thử nghiệm - đánh giá công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn - tư vấn kỹ thuật, cung cấp hạ tầng và thiết bị phục vụ nghiên cứu - phát triển - đổi mới sản phẩm;

6) Tổ chức hoạt động ươm tạo công nghệ và ươm tạo khởi nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, xây dựng chiến lược phát triển và tiếp cận thị trường;

7) Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong việc bảo hộ, quản trị, khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ; tư vấn định giá quyền sở hữu trí tuệ và tiếp cận các cơ chế tài chính dựa trên quyền sở hữu trí tuệ;

8) Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo;

9) Xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

Hệ thống đổi mới sáng tạo là gì?

Trả lời :

Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025, “Hệ thống đổi mới sáng tạo là tổng thể các chủ thể và mối liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ quan nhà nước, cộng đồng và hệ thống thiết chế để thúc đẩy việc tạo ra hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu suất, giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống.”

Các hoạt động thúc đẩy, phổ biến, lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo gồm những hoạt động gì?

Trả lời :

Căn cứ Điều 61 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025, các hoạt động thúc đẩy, phổ biến, lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo gồm:

1. Tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa nhận thức, thái độ của cộng đồng về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ; tinh thần sẵn sàng tiên phong, chủ động sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng; văn hóa bao dung với thất bại; phổ biến, nhân rộng các dự án đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo điển hình;

2. Đổi mới tư duy của cơ quan quản lý, doanh nhân và người dân về văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, khuyến khích mọi người dám suy nghĩ khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, dám mạo hiểm và chấp nhận thất bại;

3. Tổ chức triển lãm, hội thảo, hội nghị, sự kiện trong nước, nước ngoài về kết nối cung - cầu công nghệ, công nghệ mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới, thúc đẩy hoạt động ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo;

4. Phát triển mạng lưới đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, kết nối với mạng lưới đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo khu vực và toàn cầu;

5. Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình quảng bá Thương hiệu Quốc gia về đổi mới sáng tạo, tổ chức Giải thưởng Quốc gia, địa phương về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo nhằm tôn vinh và khuyến khích tổ chức, cá nhân có đóng góp xuất sắc về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo;

6. Xây dựng nội dung đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo đưa vào chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích tổ chức hoạt động thực hành đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trong cơ sở giáo dục;

7. Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận chính sách tài trợ, hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người yếu thế và nhóm đối tượng đặc thù khác thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.

Cơ chế, chính sách ưu đãi thuế dành cho doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới sáng tạo tại Việt Nam?

Trả lời :

Một số cơ chế, chính sách ưu đãi thuế hiện có dành cho doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hiện nay gồm:

- Được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tài trợ cho tổ chức, cá nhân để thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo[1].

- Được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi dành cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp[2].

- Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp[3] từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam; thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm trong thời gian sản xuất thử nghiệm bao gồm cả sản xuất thử nghiệm có kiểm soát theo quy định của pháp luật. Thu nhập tại khoản này được miễn thuế tối đa không quá 03 năm[4]; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn[5]..." (đã có tại nội dung trả lời của câu hỏi trước).



[1] Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP

[2] Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP

[3] Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Luật số 67/2025/QH15)

[4] Khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Luật số 67/2025/QH15)

[5] Khoản 13 Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Luật số 67/2025/QH15)

Khả năng công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo ở cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025?

Trả lời :

Trung tâm đổi mới sáng tạo là một trong các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hệ thống đổi mới sáng tạo mới được thể chế hóa tại Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.

Theo quy định tại Điều 47 của luật, trước hết tổ chức cần được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc công nhận được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực, năng lực thực hiện, mục tiêu, kết quả hoạt động[1].

Về việc công nhận:

- Các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia cần đáp ứng các tiêu chí chung về hoạt động, nguồn lực, năng lực thực hiện, kết quả hoạt động hằng năm, đồng thời đáp ứng tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật do các bộ, cơ quan ngang bộ được giao quản lý ngành, lĩnh vực ban hành. Bộ KH&CN là cơ quan có thẩm quyền công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia.

- Các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh cần đáp ứng các tiêu chí chung về hoạt động, nguồn lực, năng lực thực hiện, kết quả hoạt động hằng năm, đồng thời đáp ứng tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật do UBND cấp tỉnh ban hành. UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh trong phạm vi quản lý.



[1] Khoản 1 Điều 47 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và khoản 1, 2 và 3 Điều 29 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.