Chọn ngôn ngữ

Chuyển đổi số quốc gia

Chữ ký điện tử là gì?

Trả lời :

Căn cứ theo khoản 11 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 , chữ ký điện tử được hiểu là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử, được gắn liền/kết hợp một cách logic với thông điệp dữ liệu để xác nhận được chủ thế ký, đồng thời khẳng định sự chấp thuận của chủ thế đó với thông điệp dữ liệu này.

Chữ ký số là gì?

Trả lời :

Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023, “Chữ ký số là chữ ký điện tử sử dụng thuật toán khóa không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng để kiểm tra chữ ký số. Chữ ký số bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ nhưng không bảo đảm tính bí mật của thông điệp dữ liệu” (khoản 12 Điều 3).

Chứng thư chữ ký điện tử là gì?

Trả lời :

Chứng thư chữ ký điện tử là thông điệp dữ liệu được dùng để xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử. Chứng thư chữ ký điện tử đối với chữ ký số được gọi là chứng thư chữ ký số.

Chứng thư chữ ký số là gì?

Trả lời :

Chứng thư chữ ký điện tử đối với chữ ký số được gọi là chứng thư chữ ký số.

Phân biệt chữ ký điện tử và chữ ký số

Trả lời :

- Về định nghĩa:

Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định chữ ký điện tử và chữ ký số cụ thể như sau: “Chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu để xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu” (khoản 11 Điều 3); “Chữ ký số là chữ ký điện tử sử dụng thuật toán khóa không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng để kiểm tra chữ ký số. Chữ ký số bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ nhưng không bảo đảm tính bí mật của thông điệp dữ liệu” (khoản 12 Điều 3).

- Về việc tạo lập:

Điểm giống nhau của chữ ký số và chữ ký điện tử là đều được tạo lập trong môi trường điện tử và bằng phương tiện điện tử nhưng cách tạo lập của chữ ký số và chữ ký điện tử lại khác nhau. Cụ thể, chữ ký số được tạo lập bằng sự biến đổi thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai. Trong khi đó chữ ký điện tử chỉ cần đáp ứng điều kiện được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu.

- Về tính năng:

Chữ ký điện tử xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu, Chữ ký số là một loại chữ ký điện tử có tính năng bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ.

- Về bảo mật:

So với chữ ký điện tử, chữ ký số được tạo lập bằng sự biến đổi thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai giúp đảm bảo tính bí mật của dữ liệu do đó khó có thể sao chép, giả mạo hoặc thay đổi, nên có tính bảo mật cao so với chữ ký điện tử.

- Về giá trị pháp lý:

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chữ ký số tại Điều 23, cụ thể: “(1) Chữ ký điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử. (2) Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy. (3) Trường hợp pháp luật quy định văn bản phải được cơ quan, tổ chức xác nhận thì yêu cầu đó được xem là đáp ứng đối với một thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số của cơ quan, tổ chức đó.”. Như vậy, chữ ký số được sử dụng rộng rãi và có tính bảo mật cao hơn so với chữ ký điện tử.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chữ ký số và chữ ký điện tử là hai khái niệm khác nhau, có thể dễ bị nhầm lẫn. Chữ ký số chỉ là một dạng của chữ ký điện tử và ngược lại, chữ ký điện tử bao gồm cả chữ ký số.

Khi ký số Chữ ký số thì thời hạn hiệu lực của chữ ký số như thế nào? Các trường hợp Chữ ký số chữ ký điện tử bị hết hiệu lực?

Trả lời :

Hiệu lực của chữ ký số sẽ được xác định tại thời điểm ký số và không xác định thời hạn kể từ thời điểm ký. Trường hợp chữ ký số bị hết hiệu lực xảy ra khi chữ ký số không đáp ứng được các điều kiện sau:

- Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số đó.

- Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.

- Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký.

Đối tượng nào được cung cấp dịch vụ tin cậy tại Việt Nam?

Trả lời :

Doanh nghiệp được quyền đăng ký một hoặc các dịch vụ tin cậy. Khi đăng ký bất kỳ dịch vụ tin cậy, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện theo Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ tin cậy.

Dịch vụ tin cậy là gì và có những loại dịch vụ tin cậy nào?

Trả lời :

"Dịch vụ tin cậy trong giao dịch điện tử là các dịch vụ do nhà cung cấp dịch vụ thực hiện thông qua môi trường mạng nhằm xác minh, chứng thực sự tin cậy trong giao dịch điện tử.

Dịch vụ tin cậy là ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm các dịch vụ sau: Dịch vụ cấp dấu thời gian; Dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu; Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng."

Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng là gì?

Trả lời :

Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng là dịch vụ chứng thực chữ ký số trong hoạt động công cộng do tổ chức được cấp phép cung cấp

Chữ ký điện tử có giá trị thay thế con dấu của cơ quan, tổ chức không?

Trả lời :

Căn cứ theo khoản 1 Điều 43 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14: “Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”. Như vậy, hiện nay chỉ có chữ ký số có giá trị thay thế con dấu của tổ chức, doanh nghiệp. 

Pháp luật quy định như thế nào về cách thức chuyển đổi từ văn bản giấy thành văn bản điện tử?

Trả lời :

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức văn bản điện tử” (khoản 1 Điều 7).

Về cách thức chuyển đổi từ văn bản giấy thành văn bản điện tử, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định tại khoản 1 Điều 12: “Thông điệp dữ liệu được chuyển đổi từ văn bản giấy phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: (a) Thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn như văn bản giấy; (b) Thông tin trong thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu; (c) Có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi; (d) Trường hợp văn bản giấy là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành thì việc chuyển đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản này và phải có chữ ký số của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu.” 

Như vậy, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã quy định những điều kiện cơ bản trong việc thực hiện chuyển đổi từ văn bản giấy sang văn bản điện tử và quy định việc chuyển đổi, giá trị pháp lý sau khi chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và văn bản điện tử.


Vai trò của chữ ký số cá nhân trong bảo vệ cá nhân, khách hàng khi bị hack điện thoại do lộ PIN hoặc truy cập app CA?

Trả lời :

Về vai trò của chữ ký số: Theo quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Chữ ký số là chữ ký điện tử sử dụng thuật toán khóa không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng để kiểm tra chữ ký số. Chữ ký số bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ nhưng không bảo đảm tính bí mật của thông điệp dữ liệu. (khoản 12 Điều 3).

Bên cạnh đó, Luật an toàn thông tin mạng quy định dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử được coi là một trong những dịch vụ trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng. Theo đó, chữ ký số (là một loại chữ ký điện tử) được xem như một biện pháp để bảo đảm an toàn thông tin dữ liệu cụ thể:

Tùy theo giải pháp của mỗi nhà cung cấp dịch vụ, thuê bao phải thực hiện việc xác thực để chứng minh mình kiểm soát được khóa bí mật tại thời điểm ký số lên thông điệp dữ liệu như nhập mật khẩu, mã PIN và xác thực danh tính bằng dữ liệu sinh trắc học (như vân tay, khuôn mặt, mống mắt…), như:

+ Mô hình ký số trên các phương tiện lưu khóa bí mật bằng thiết bị phần cứng (USB Token) và ký số trên thiết bị di động (SIM PKI). Các mô hình ký số này yêu cầu tối thiểu 2 lớp xác thực (hai yếu tố xác thực).

+ Mô hình ký số từ xa (Remote Signing), Mô hình ký số này yêu cầu nhiều lớp xác thực hơn so với mô hình USB Token và SIM PKI (tối thiểu 3 yếu tố xác thực tương đương mức độ 04 về xác thực tài khoản định danh điện tử quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP).

Như vậy, để có thể ký số thì chủ sở hữu chữ ký cần thực hiện nhiều bước xác thực để chứng minh mình kiểm soát được khóa bí mật tại thời điểm ký số lên thông điệp dữ liệu. Do đó, Chữ ký số có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn thông tin dữ liệu, bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ đối với dữ liệu được ký số kể cả trong trường hợp khách hàng khi bị hack điện thoại do lộ PIN hoặc truy cập app CA.

Để Luật Trí tuệ nhân tạo sớm đi vào cuộc sống, chúng ta cần có sự chuẩn bị về cơ sở hạ tầng, nền tảng dữ liệu?

Trả lời :

Cần xác định hạ tầng và dữ liệu là “xương sống” của nền kinh tế số. Quan điểm của Luật là Nhà nước không thụ động chờ đợi xã hội hóa, mà sẽ đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt thông qua 3 giải pháp chiến lược:

Một là, đầu tư Hạ tầng AI quốc gia. Luật quy định thiết lập Hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia, coi đây là hạ tầng chiến lược. Nhà nước sẽ đầu tư trực tiếp vào năng lực tính toán hiệu năng cao và các nền tảng huấn luyện dùng chung. Hạ tầng này sẽ được cung cấp như một dịch vụ công để hỗ trợ cộng đồng, giúp các doanh nghiệp nhỏ cũng có thể đứng trên vai người khổng lồ .

Hai là, xác lập chủ quyền số và tri thức Việt. Điểm nhấn quan trọng của Luật là ưu tiên nguồn lực để phát triển Mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI. Mục tiêu là chúng ta phải làm chủ công nghệ xử lý tri thức, đảm bảo AI tại Việt Nam phải hiểu văn hóa Việt, ngôn ngữ Việt và tuân thủ pháp luật Việt Nam .

Ba là, hỗ trợ tiếp cận thực chất. Để các chính sách trên đến được với doanh nghiệp, Luật quy định cơ chế 'Phiếu hỗ trợ' (Voucher). Doanh nghiệp khởi nghiệp, viện nghiên cứu sẽ được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để thuê hạ tầng tính toán và mua dữ liệu, giảm thiểu rào cản chi phí gia nhập thị trường.

Luật Trí tuệ nhân tạo đưa hoạt động phát triển AI vào nhóm hưởng ưu đãi cao nhất nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường. Điều này thể hiện như thế nào trong Luật, đặc biệt là đối với Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo Quốc gia?

Trả lời :

Luật xác định AI là lĩnh vực đột phá chiến lược, nên phải được hưởng mức ưu đãi cao nhất để tạo động lực phát triển thị trường. Điều này thể hiện trên ba trụ cột lớn:

Thứ nhất, ưu đãi trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu – phát triển và ứng dụng AI.
Luật quy định các dự án AI được hưởng mức ưu đãi tối đa theo hệ thống pháp luật hiện hành: từ thuế, tín dụng, đất đai cho tới thủ tục đầu tư. Đây là lần đầu tiên chúng ta thiết kế một khung ưu đãi đồng bộ như vậy cho công nghệ mới.

Thứ hai, ưu đãi về cơ chế thông qua Sandbox. Sandbox là làn đường ưu tiên cho đổi mới sáng tạo: doanh nghiệp được miễn, giảm một số nghĩa vụ pháp lý; quan trọng hơn, kết quả thử nghiệm được công nhận để đi thẳng ra thị trường mà không phải quay lại thủ tục từ đầu. Đây là ưu đãi rất khác biệt, giúp ý tưởng mới rút ngắn được “khoảng cách ý tưởng – thị trường”.

Thứ ba, cơ chế đặc thù của Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo Quốc gia.
Quỹ được thiết kế không theo mô hình “xin – cho”, mà như một động cơ tài chính linh hoạt, với ba điểm nổi bật:

1. Chấp nhận rủi ro để đầu tư cho công nghệ lõi và các dự án dài hạn mà doanh nghiệp khó tự triển khai.

2. Không phụ thuộc năm ngân sách, cho phép tài trợ liên tục theo tiến độ thực tế.

3. Tập trung đầu tư dẫn dắt vào những hạ tầng quan trọng nhất: năng lực tính toán, dữ liệu dùng chung và mô hình nền tảng tiếng Việt.

        Như vậy, Luật không chỉ quản lý rủi ro, mà còn thiết kế một gói hỗ trợ rất mạnh – từ ưu đãi tài chính, ưu đãi cơ chế tới một Quỹ quốc gia mang tính dẫn dắt – để doanh nghiệp Việt có điều kiện phát triển và cạnh tranh trong kỷ nguyên AI.

Các quy định trong luật sẽ cân bằng hai yếu tố thúc đẩy phát triển AI và kiểm soát rủi ro trong lĩnh vực này như thế nào?

Trả lời :

Luật Trí tuệ nhân tạo sẽ mở rộng đường băng cho đổi mới sáng tạo, nhưng đặt hàng rào an toàn đúng nơi cần thiết. Luật giải quyết điều này qua ba cơ chế then chốt:

Thứ nhất, quản lý theo rủi ro, không quản lý đại trà. Đa số hệ thống AI rủi ro thấp được tự do phát triển. Ngay cả nhóm rủi ro cao, doanh nghiệp vẫn chủ yếu tự đánh giá – tự công bố – tự chịu trách nhiệm; Nhà nước tăng cường hậu kiểm. Chỉ một số rất ít hệ thống đặc biệt quan trọng do Thủ tướng quy định mới phải kiểm định chặt chẽ.

Thứ hai, thúc đẩy mạnh mẽ thông qua Sandbox. Sandbox là “làn đường ưu tiên” để thử nghiệm mô hình mới trong không gian pháp lý được nới một bước. Doanh nghiệp tham gia không chỉ được miễn giảm nghĩa vụ pháp lý mà quan trọng hơn, kết quả thử nghiệm sẽ được công nhận để rút ngắn đường ra thị trường.

Thứ ba, tiếp cận dữ liệu theo hướng “vừa quản, vừa mở”. Luật yêu cầu dữ liệu dùng để huấn luyện và vận hành AI phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, và hệ thống rủi ro cao phải quản trị dữ liệu, giảm thiên lệch và bảo đảm chất lượng.
Nhưng Luật khẳng định rõ: không yêu cầu nộp dữ liệu, không yêu cầu tiết lộ bí mật công nghệ. Song song, Nhà nước đầu tư hạ tầng và dữ liệu dùng chung, tạo nguồn “nhiên liệu sạch” để doanh nghiệp Việt giảm chi phí và phát triển nhanh hơn.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo được quy định như thế nào.

Trả lời :

Theo Điều 25 của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 quy định:

1. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chi phí đánh giá sự phù hợp quy định tại Luật này; được cung cấp miễn phí hồ sơ mẫu, công cụ tự đánh giá, đào tạo và tư vấn; được ưu tiên hỗ trợ từ Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia.

2. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức khoa học và công nghệ và nhóm nghiên cứu có dự án đổi mới sáng tạo khả thi được hỗ trợ thông qua phiếu hỗ trợ để sử dụng hạ tầng tính toán, dữ liệu dùng chung, mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, nền tảng huấn luyện, kiểm thử và dịch vụ tư vấn kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, phát triển và triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

3. Doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo được ưu tiên tham gia nhiệm vụ trong chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, nhiệm vụ phát triển công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, công nghệ chiến lược và sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; được hỗ trợ phát triển công nghệ cốt lõi, mô hình nền tảng, phần cứng và công nghệ huấn luyện hiệu năng cao theo định hướng phát triển năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia.

4. Doanh nghiệp tham gia thử nghiệm trí tuệ nhân tạo theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được hỗ trợ tư vấn kỹ thuật, đánh giá rủi ro, kiểm thử an toàn và kết nối với cơ sở thử nghiệm, kiểm định theo quy định của pháp luật.

5. Doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu, mô hình, công cụ hoặc kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo được hưởng ưu đãi hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật, bảo đảm tuân thủ pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và sở hữu trí tuệ.

6. Nhà nước khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mở rộng năng lực đổi mới sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.

7. Chính phủ quy định chi tiết cơ chế, chính sách, điều kiện và quy trình thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Quy định về trách nhiệm minh bạch đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo.

Trả lời :

Căn cứ Điều 11, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, trách nhiệm minh bạch được quy định như sau:

1. Nhà cung cấp bảo đảm hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết khi đang tương tác với hệ thống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Nhà cung cấp bảo đảm các nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ.

3. Bên triển khai có trách nhiệm thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Bên triển khai có trách nhiệm bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.

Đối với sản phẩm là tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn quy định tại khoản này được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm.

5. Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm duy trì thông tin minh bạch theo quy định tại Điều này trong suốt quá trình cung cấp hệ thống, sản phẩm hoặc nội dung cho người sử dụng.

6. Chính phủ quy định chi tiết hình thức thông báo, gắn nhãn.

Các hành vi nào bị nghiêm cấm về trí tuệ nhân tạo.

Trả lời :

Căn cứ Điều 7, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:

1. Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:

a) Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;

b) Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;

c) Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;

d) Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

3. Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.

4. Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.

5. Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.

6. Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.

Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo?

Trả lời :

       Căn cứ Điều 5, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo bao gồm:

1. Có chính sách phát triển trí tuệ nhân tạo để trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đất nước.

2. Khuyến khích thử nghiệm công nghệ có kiểm soát; áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với mức độ rủi ro và khuyến khích cơ chế tự nguyện tuân thủ.

3. Có chính sách bảo đảm quyền và tạo điều kiện tiếp cận, học tập và thụ hưởng lợi ích từ trí tuệ nhân tạo của tổ chức, cá nhân; khuyến khích phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ an sinh xã hội, hỗ trợ người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số để thu hẹp khoảng cách số; bảo tồn, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

4. Ưu tiên đầu tư và huy động nguồn lực xã hội để phát triển hạ tầng dữ liệu, hạ tầng tính toán, trí tuệ nhân tạo an toàn, nguồn nhân lực chất lượng cao và các nền tảng trí tuệ nhân tạo dùng chung mang tính chiến lược quốc gia.

5. Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ ra quyết định của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; khuyến khích ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ và hiệu quả quản lý.

6. Khuyến khích các tổ chức, mạng lưới và sáng kiến xã hội thúc đẩy an toàn, đạo đức, tin cậy và xây dựng niềm tin xã hội trong phát triển trí tuệ nhân tạo.

7. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; khuyến khích hợp tác công tư.

Chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế; tham gia xây dựng và định hình chuẩn mực, khung quản trị toàn cầu; bảo đảm lợi ích và chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày nào?

Trả lời :

Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.

Tại sao nói chuyển đổi số là cuộc cách mạng toàn dân?

Trả lời :

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số không phải vấn đề quan trọng nhất, mà sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp và sự tham gia của toàn dân mới là yếu tố đảm bảo sự thành công của chuyển đổi số, thay đổi thứ hạng quốc gia.

Xét cho cùng, chuyển đổi số là phục vụ người dân. Mỗi người dân trở thành công dân số thì chuyển đổi số mới thành công. Do vậy, chuyển đổi số mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng toàn dân.

Khi nhân dân đứng dậy, họ sẽ tìm ra vũ khí

Năm 1940, khi chuẩn bị rời Quế Lâm trở về Việt Nam đấu tranh, nhiều đồng chí đã lo ngại lực lượng của ta còn quá yếu, không có vũ khí, về bây giờ làm sao có thể kháng chiến, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trả lời và để lại cho thế hệ sau một bài học quý báu: Vũ khí không phải vấn đề quan trọng nhất của cách mạng. Nếu chúng ta có vũ khí bây giờ, ai sẽ là người cầm vũ khí. Vì vậy, chúng ta phải về nước và động viên quần chúng. Khi nhân dân đứng dậy, họ sẽ tìm ra vũ khí.

Khi toàn dân cùng tham gia, họ sẽ tìm ra công nghệ số phù hợp, sẽ tìm ra cách giải phù hợp và vì thế chuyển đổi số sẽ thành công.


Chuyển đổi số có phải là chuyện riêng của các doanh nghiệp công nghệ số?

Trả lời :

Không phải. Chuyển đổi số là câu chuyện chung của tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt ngành, nghề. Chuyển đổi số là sân chơi của tất cả doanh nghiệp mà ở đó bất kỳ ai đủ nhanh nhạy đều có thể nắm được thời cơ. Doanh nghiệp công nghệ số

chỉ là một phần nhỏ, là những người tạo ra công nghệ số hoặc tư vấn ứng dụng công nghệ số. Những doanh nghiệp khác dùng công nghệ số để thực hiện chuyển đổi số mới là phần lớn và là phần quan trọng nhất.

Vì sao doanh nghiệp cần chuyển đổi số?

Trả lời :

Bởi vì, thị trường luôn thay đổi, hành vi của người tiêu dùng luôn thay đổi, luôn có một lớp người dùng mới, nhu cầu mới, yêu cầu những trải nghiệm mới.

“Câu chuyện của Kodak

Năm 1975, kỹ sư của Kodak đã phát minh ra chiếc máy ảnh số, nhưng Kodak đã giấu kín vì lo sợ phát minh này sẽ khiến người tiêu dùng không mua phim và thuốc rửa ảnh nữa. Thường thì doanh nghiệp càng lớn và càng thành công thì lại càng chậm chuyển đổi. Kodak tiếp tục bỏ qua nhiều cơ hội chuyển đổi số khác. Nhưng Kodak không làm thì có người khác làm. Sự xuất hiện của iPhone năm 2007, rồi Instagram năm 2010 là nguyên nhân trực tiếp khiến Kodak phá sản vào năm 2012”

Vì sao chuyển đổi số là cơ hội lớn?

Trả lời :

Chuyển đổi số là cơ hội vô giá của chúng ta. Chuyển đổi số cũng là cơ hội lớn của chúng ta trong vòng một vài thập kỷ tới. Những đột phá về công nghệ số đều thai nghén trong nhiều chục năm mới phổ biến được vài năm và nhiều chục năm mới có một lần.

Chúng ta không tiến khi người khác tiến là chúng ta đã tụt lại. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, chúng ta sẽ bị tụt lại sau các quốc gia khác xa hơn nữa, do người đi trước thắng cuộc là người lấy được tất cả.

Chuyển đổi số có gì không tốt?

Trả lời :

Chuyển đổi số cũng giống như mọi thứ khác trên đời, luôn luôn có hai mặt, bởi vì công nghệ số là cội nguồn của những điều tốt đẹp lớn lao và cũng là nguồn gốc của những tác hại khủng khiếp tiềm tàng. Chúng ta có thể chưa hình dung hết được tất cả về những điều tốt đẹp và điều khủng khiếp đó ở thời điểm hiện nay.

Việc chuyển đổi lên môi trường số đòi hỏi mỗi người dân tự trang bị cho mình những kỹ năng số cần thiết. Tương tự môi trường thực, luôn có những đối tượng yếu thế trên môi trường số, là mục tiêu nhắm đến của các đối tượng xấu. Đó có thể là người già, trẻ em hay bất kỳ ai trong chúng ta.

Những hệ lụy đến từ môi trường số có thể kể ra như những chiêu trò lừa đảo, những vụ ăn hiếp, bắt nạt trên mạng, những trang của các nhóm hận thù và những trang của các nhóm khủng bố.

Khó khăn và thách thức lớn nhất của chuyển đổi số là gì?

Trả lời :

Khó khăn và thách thức lớn nhất của chuyển đổi số là gì?

Khó khăn lớn nhất của chuyển đổi số là thay đổi thói quen. Thách thức lớn nhất của chuyển đổi số là có nhận thức đúng.

Loài người đã quen với môi trường thực nhiều thế kỷ. Chuyển lên môi trường số là thay đổi thói quen. Thay đổi thói quen là việc khó. Thay đổi thói quen là việc lâu dài. Thay đổi thói quen ở một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào quyết tâm của người đứng đầu.

Chuyển đổi số là chuyện chưa có tiền lệ, vì vậy, nhận thức đúng là việc khó. Nhận thức đúng về chuyển đổi số còn phải đặt trong bối cảnh cụ thể của một tổ chức. Chuyển đổi số là vấn đề nhận thức chứ không phải chỉ là vấn đề công nghệ, là chuyện dám làm hay không dám làm của người lãnh đạo.

Điện toán đám mây là gì?

Trả lời :

Điện toán đám mây là công nghệ cho phép năng lực tính toán nằm ở các máy chủ ảo, gọi là đám mây trên Internet của các nhà cung cấp thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng trên mặt đất, để mọi người kết nối, sử dụng như là dịch vụ khi họ cần. Một cách nôm na, điện toán đám mây cũng giống như điện lưới. Cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp thay vì đầu tư máy chủ tính toán của riêng mình, giống như máy phát điện, thì sử dụng dịch vụ điện toán đám mây giống như điện lưới, sửdụng đến đâu trả chi phí đến đó mà không phải bận tâm tới việc vận hành, quản lý.

Có thể ví điện toán đám mây như là cơ bắp của con người.

Internet vạn vật là gì?

Trả lời :

Internet vạn vật (IoT) là một công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nếu như Internet là mạng lưới kết nối các thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh... với nhau để trao đổi, chia sẻ dữ liệu, Internet vạn vật là mạng lưới kết nối vạn vật với nhau để làm việc tương tự. Nhờ có các cảm biến thông minh và kết nối mạng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những vật vô tri vô giác, vật dụng gia đình, như chiếc quạt điện, lò vi sóng, hay cành cây, ngọn có “cất tiếng nói” và giao tiếp với nhau và với con người. Internet vạn vật đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa môi trường thực và môi trường số.

Có thể ví Internet vạn vật như là các giác quan của con người. 

Vì sao an toàn mạng đơn giản như rửa tay bằng xà phòng?

Trả lời :

Chỉ cần có ý thức và thói quen đúng, mỗi người đã tự có thể bảo vệ mình, hạn chế đến 80% nguy cơ, rủi ro, 20% còn lại thì chỉ có những kẻ tấn công chuyên nghiệp, bỏ ra một nguồn lực rất lớn, mới có thể đe dọa được.

Mỗi người hãy tự hiểu rõ các ứng dụng mà mình đã cài trên điện thoại thông minh của mình như chính cơ thể mình. Điện thoại thông minh cho phép người dùng kiểm soát, cấp quyền phù hợp cho từng ứng dụng theo nhu cầu chức năng sử dụng. Bạn hãy xóa các ứng dụng mà mình không dùng, tự mình phân quyền cho các ứng dụng mình cần một cách hợp lý, ví dụ, ứng dụng “Lịch vạn niên” thì không cần đến quyền truy cập vào Danh bạ hay Định vị của bạn, không cần cấp cho ứng dụng này quyền đó.

Hãy chỉ cài đặt ứng dụng từ các kho chính thức, với iPhone là Apple Store và với các điện thoại dùng Android là Google Play Store. Hạn chế tối đa việc cài các ứng dụng trôi nổi không rõ nguồn gốc.

Hãy thiết lập cho mình mật khẩu mạnh khi sử dụng điện thoại và các ứng dụng, hãy luôn cập nhật bản mới nhất của hệ điều hành và ứng dụng.

Hãy cài đặt các ứng dụng bảo mật cho chiếc điện thoại thông minh của mình, giống như trang bị thêm khóa cho tài sản của mình. Việt Nam có những ứng dụng rất tốt, chẳng hạn như phần mềm bảo mật điện thoại thông minh của BKAV, CMC hay Viettel.

Làm sao để an toàn trong môi trường số?

Trả lời :

Môi trường sống nào thì cũng đều không an toàn. Đó là bản chất của cuộc sống. Chúng ta sống trong thế giới thực đã hàng chục nghìn năm rồi, thể chế, pháp luật, bộ máy nhà nước đã hoàn thiện hàng nghìn năm nay mà vẫn có những nguy cơ, vẫn không an toàn tuyệt đối, vẫn có trộm cắp, giết người.

Chuyển đổi số tạo ra một không gian sống mới, gọi là không gian mạng hoặc môi trường số. Cuộc sống đã và đang vào môi trường số nhanh hơn so với hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi pháp luật và vì vậy, các nguy cơ là không nhỏ. Nhưng cái may mắn là, cả thế giới đang cùng đối mặt những thách thức này, các nước đang hoàn thiện hệ thống pháp luật trên môi trường số. Chúng ta có thể học hỏi. Ví dụ về bảo vệ dữ liệu cá nhân thì châu Âu đã ban hành luật và được nhiều nước coi như chuẩn; các mạng xã hội lớn như Facebook, Twitter, Google cũng đã được các nước quản lý thông qua các luật về thị trường và dịch vụ số. Việt Nam chúng ta cũng đang học hỏi để hoàn thiện thể chế, bộ máy trên môi trường số.

Nhưng chúng ta sẽ luôn phải đương đầu với các nguy cơ trên môi trường số. Ngoài luật lệ thì mỗi chúng ta vẫn phải trang bị các kỹ năng số để sinh sống an toàn trong môi trường số. Tai nạn, sự cố an ninh mạng vẫn sẽ xảy ra, nhưng đó cũng là cách để môi trường số ngày một an toàn hơn. Vì không thể có rủi ro bằng 0 nên cách tiếp cận sẽ là quản lý rủi ro, tối thiểu rủi ro, khi rủi ro xảy ra thì khả năng hồi phục là quan trọng nhất.

Việt Nam sẽ phải thịnh vượng trên không gian mạng, bởi vậy, Việt Nam phải trở thành cường quốc về an toàn, an ninh mạng để bảo vệ sự thịnh vượng của mình trên không gian mạng. Cường quốc về an toàn, an ninh mạng thì cũng như cường quốc về quân sự trong thế giới thực.

Mỗi người dân tự có ý thức bảo vệ mình trong môi trường số như bảo vệ mình trong môi trường thực, bảo vệ tài sản vô hình của mình, chẳng hạn thông tin cá nhân, như bảo vệ tài sản hữu hình khác. Chiếc điện thoại thông minh giờ đây trở thành vật bất ly thân với nhiều người và vì thế là điểm yếu nhất.

Thế nào là chuyển đổi số lấy người dân là trung tâm?

Trả lời :

Điện thoại di động thông minh là phương tiện chính của người dân trong thế giới số, vì vậy, chuyển đổi số lấy người dân là trung tâm trước hết phải trang bị phương tiện cho người dân, thông qua việc thực hiện phổ cập điện thoại di động thông minh. Mỗi người dân một điện thoại thông minh. Mỗi hộ gia đình một đường cáp quang.

Lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hàng ngày tới người dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí cần ưu tiên chuyển đổi số trước, bao gồm: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Tài chính - Ngân hàng, Nông nghiệp, Giao thông vận tải, Năng lượng, Tài nguyên và Môi trường, Sản xuất công nghiệp.

Ứng dụng công nghệ thông tin, rồi chuyển đổi số, đã đi qua những chặng đường phát triển khác nhau.

Thứ nhất là doanh nghiệp công nghệ có giải pháp, có ứng dụng đến chào hàng chính quyền, chính quyền xem xét mua và ứng dụng. Đây là giai đoạn mà nhà công nghệ, doanh nghiệp là người dẫn dắt.

Thứ hai là chính quyền hiểu công nghệ hơn, tin vào công nghệ hơn, và bắt đầu đặt ra các bài toán của chính quyền cho doanh nghiệp công nghệ để họ giải quyết bằng công nghệ. Người dẫn dắt là chính quyền.

Thứ ba là lấy người dân làm trung tâm, các bài toán chính quyền đặt ra là do lắng nghe từ người dân, xuất phát từ nhu cầu của người dân, mang lại giá trị cho người dân. Chính quyền đưa người dân vào trung tâm.

Thứ tư là sự tham gia của bốn bên ngay từ đầu, đó là người dân, chính quyền, nhà công nghệ và doanh nghiệp. Bốn bên này sẽ cùng bàn xem cái gì và cách nào để giải quyết các nhu cầu của người dân, của doanh nghiệp, của chính quyền.

Vậy cách tiếp cận đúng là, tất cả là vì sự phát triển bền vững, mọi việc luôn có sự bàn bạc của cả bốn bên ngay từ đầu.

Làm thế nào để địa phương khởi động chuyển đổi số một cách dễ dàng?

Trả lời :

Trước đây, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin không phải là một việc quá dễ dàng. Vì phải triển khai, vận hành hệ thống, phải đào tạo người dùng. Những việc này lại phải làm ở từng đơn vị, từng xã, từng huyện, từng tỉnh nên rất thiếu cán bộ công nghệ thông tin. Với công nghệ số thì không có các bài toán này. Tất cả là trên nền tảng, các xã, các huyện chỉ cần đăng ký vào để dùng, không còn hệ thống ở từng xã, từng huyện nữa. Dễ dùng đến mức không cần đào tạo. Các quy trình, cách làm đã được đưa vào nền tảng số, người dùng không cần nhớ, không cần học.

Đối với những bài toán mới thì lãnh đạo tỉnh chỉ cần đặt ra bài toán, đặt ra mục tiêu cần đạt được, lượng hóa giá trị cần tạo ra để biết chi phí tối đa có thể chi. Lãnh đạo cũng phải tạo ra thể chế cho cái mới được phép vận hành. Lãnh đạo không cần quá quan tâm đến việc làm thế nào. Việc này hãy để cho doanh nghiệp làm, đây là nghề của họ, và họ giỏi hơn lãnh đạo. Lãnh đạo khi bị quấn vào bàn bạc cách làm, nhất là cách làm một việc mà mình không có chuyên môn như chuyển đổi số, thì sẽ không ra được quyết định làm hay không làm và vì vậy mà nhiều việc sẽ bị treo ở đó.

Có một cách tiếp cận nữa cũng rất hiệu quả là hãy để cho người dân, doanh nghiệp đề xuất với tỉnh những việc, những giá trị mà họ có thể tạo ra cho tỉnh. Tỉnh xem xét nếu thấy giá trị tạo ra cho tỉnh lớn hơn chi phí thì cho làm. Đây là cách đưa toàn dân vào tham gia đổi mới sáng tạo cho tỉnh. Toàn dân tham gia phát triển tỉnh. Không nên coi các ý tưởng phát triển tỉnh nhà là độc quyền của công chức nhà nước. Thường thì những đột phá, những giá trị lớn bất ngờ là xuất phát từ sáng tạo của trí tuệ nhân dân.

Hiểu về Make in Viet Nam như thế nào?

Trả lời :

Make in Viet Nam là thiết kế tại Việt Nam, làm ra sảnphẩm tại Việt Nam. Kêu gọi chuyển từ lắp ráp, gia công sang làm sản phẩm Việt Nam. Không làm sản phẩm thì Việt Namkhông hùng cường, thịnh vượng được.

 

Việt Nam đã có thiết bị 5G Việt Nam, có mạng xã hội Việt Nam, có sản phẩm an toàn, an ninh mạng Việt Nam và rất nhiều phần mềm Việt Nam.

 

Để thúc đẩy Make in Viet Nam, tất cả từ nhà nước đến doanh nghiệp, người dân hãy đưa các bài toán, các vấn đề của đất nước, của xã hội tới cộng đồng doanh nghiệp công nghệ sốViệt Nam để họ tham gia giải quyết.

Chuyển đổi số khi nào?

Trả lời :

Chuyển đổi số là quá trình khách quan, muốn hay không thì chuyển đổi số vẫn xảy ra và đang diễn ra. Mọi cá nhân, tổ chức có thể tham gia hoặc đứng ngoài quá trình đó. Nếu đứng ngoài, sẽ có khoảng cách lớn giữa các tổ chức, doanh nghiệp, lĩnh vực đã thực hiện và chưa thực hiện chuyển đổi số và khoảng cách đó sẽ dần dãn dục nới rộng theo cấp số nhân.

 Nhìn về dài hạn, thì mọi cá nhân, tổ chức đều sẽ phải chuyển đổi số, không ai có thể đứng ngoài cuộc. Tuy nhiên, tác động của công nghệ số lên các tổ chức, các ngành nghề là khác nhau, nên lộ trình chuyển đổi số sẽ khác. Một doanh nghiệp sản xuất gạch có thể ít bị tác động bởi công nghệ số hơn là một doanh nghiệp vận tải.

Nếu một doanh nghiệp lớn không đổi mới, nó có thể sẽ bị thay thế bởi những doanh nghiệp mới nổi, nhỏ và linh hoạt hơn.

Chuyển đổi số thiết lập lại mặt bằng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, chuyển từ “cá to nuốt cá bé” sang “cá nhanh nuốt cá chậm”. Trong chuyển đổi số, doanh nghiệp nào di nhanh sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn.

Chuyển đổi số quốc gia là gì?

Trả lời :

Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015, phổ biến từ năm 2017. Ở Việt Nam, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2018. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia vào ngày 03/6/2020.

 Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số.

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. 

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.